Bỏ qua để đến nội dung

Các loại đề xuất

Một brief có thể đề xuất bất kỳ loại nào dưới đây:

Loại Thay đổi gì
Bid Tăng hoặc giảm bid của một target
Harvest Đưa một search term hoặc ASIN đang ra đơn thành target riêng, dạng keyword hoặc product target
Budget Đổi budget ngày của một campaign
Enable Bật lại một target đang tạm dừng
Pause Dừng một target
Negation Chặn một search term hoặc product target
Unnegation Gỡ một negative không còn đúng nữa
Placement adjustment Đổi phần trăm của một placement
Audience boost Đổi mức chỉnh cho một audience

Một Decision Brief đề xuất gỡ một negative. Lý do dẫn ra các đơn hàng trên cùng ASIN và trên một sibling làm căn cứ để gỡ. Dưới đường dẫn là bảng trước và sau, so khoảng thời gian trước khi thêm negative với khoảng sau đó, mỗi bên có số ngày có dữ liệu, spend, impressions, clicks, orders và ACOS. SKU là dữ liệu demo thay thế. Số liệu dùng dấu phẩy làm dấu thập phân.

Unnegation có kiểu bằng chứng riêng: target đã chạy ra sao trước khi bị chặn, và sau khi bị chặn.

Loại nào trong số này bạn cũng tự làm được trong Ads Manager, và cũng cấu hình được một rule Automation để làm. Khác nhau là cách đi tới quyết định.

Đây là phần đáng hiểu nhất, vì nó là lý do để đọc brief.

Product target là một mã mười ký tự. Nhìn mã đó, bạn không biết sản phẩm là gì, cũng không biết nó có liên quan gì tới sản phẩm của bạn.

Analyst đọc listing đứng sau mã đó, vì listing vốn đã nằm trong những thứ nó đọc. Rồi nó đem sản phẩm đó so với sản phẩm đang được quảng cáo. Vì vậy brief có thể nói target này là một chiếc cốc gốm, còn bạn đang quảng cáo bình giữ nhiệt, thay vì chỉ nói target này ACOS xấu.

Một Decision Brief đề xuất một negative product target. Dưới tiêu đề, brief ghi tên sản phẩm nằm sau mã target, là listing một chiếc cốc gốm, kèm brand và category của nó. Lý do viết rằng target là cốc, không phải bình giữ nhiệt, và lượng impressions cùng một click không ra đơn cho thấy giữ lại là phí. Bên dưới là đường dẫn campaign và ad group, bảng Agent evidence cho một khoảng thời gian, và hiệu suất ở phạm vi đề xuất. Tên sản phẩm, brand, ASIN và SKU là dữ liệu demo thay thế. Số liệu dùng dấu phẩy làm dấu thập phân.

Brief gọi tên sản phẩm, không chỉ đưa ra mã. Rule không viết được câu đó.

Nó xét xem một keyword có thuộc về sản phẩm hay không

Phần tiêu đề “Nó xét xem một keyword có thuộc về sản phẩm hay không”

Đó là câu hỏi về sản phẩm, không phải một ngưỡng trên chỉ số. Cấu hình criteria kiểu gì cũng không diễn đạt được ý “search này là để tìm một thứ khác”.

Một Decision Brief đề xuất một negative keyword. Lý do nói search term này lệch xa sản phẩm đang quảng cáo, đưa ra số clicks và orders trong các khoảng thời gian phía sau, và ghi chú rằng lịch sử vẫn còn mỏng. Bên dưới là đường dẫn, bảng Agent evidence cho hai khoảng thời gian, và hiệu suất ở phạm vi đề xuất. Tên brand trong đường dẫn là dữ liệu demo thay thế. Số liệu dùng dấu phẩy làm dấu thập phân.

Bằng chứng mỏng là có chủ ý. Phán đoán nằm ở sản phẩm, còn các click chỉ để củng cố thêm.

Vì sao điều đó quan trọng về tiền bạc

Phần tiêu đề “Vì sao điều đó quan trọng về tiền bạc”

Rule phải chờ có bằng chứng, mà bằng chứng ở đây là những click không mang lại gì. Target phải tiêu tiền của bạn trước, thì một ngưỡng mới có thể kích hoạt trên nó.

Độ liên quan thì xét được trước khi khoản tiền đó bị tiêu. Một target rõ ràng là sai sản phẩm thì không cần chứng minh bằng click trước.

Đó là lý do nên dùng brief thay cho rule với những target mới hoặc chưa được kiểm chứng. Không phải vì brief thông minh hơn, mà vì brief hành động được dựa trên một loại bằng chứng khác.

Bid và budget thường để rule làm thì tốt hơn. Đây là các quyết định theo ngưỡng, và chúng được lợi khi chạy đều đặn. Chỉ đọc brief cho hai loại này khi có gì đó trông bất thường, đừng đọc như việc hằng ngày.

Negation và unnegation là nơi phán đoán về độ liên quan phát huy tác dụng. Rule negate dựa trên hiệu suất. Brief thì negate được dựa trên việc target là gì.

Enable và pause là hành động thô, nên đọc kỹ lý do trước khi áp dụng.

Placement và audience là các chỉnh sửa ở cấp campaign, và hiện chưa tự động hóa được. Xem rule placement và budget, rule này vẫn đang được phát triển. Từ giờ tới lúc đó, brief là cách để ra các quyết định này kèm bằng chứng.

  • Đề xuất không phải là dự đoán. Nó nói bằng chứng ủng hộ điều gì, không nói điều gì sẽ xảy ra.
  • Danh sách ở trên là những gì một brief mang được hiện nay. Tài khoản của bạn có loại nào hay không tùy vào bằng chứng ủng hộ điều gì.
  • Chưa có gì được áp dụng cho tới khi bạn áp dụng nó. Xem Preview Changes.