Bỏ qua để đến nội dung

Đặt hàng và sản xuất

Tới đây, plan thôi là một bản dự phóng. Nó thành một đơn hàng mà ai đó phải làm ra.

Màn Orders đang mở Production orders. Phía trên là các bộ lọc current, closed và archived, bên dưới là một ma trận có mỗi cột là một đơn sản xuất và mỗi hàng là một biến thể thành phẩm, để bạn thấy mỗi đơn mang bao nhiêu của từng biến thể. Tên sản phẩm, SKU, tên purchase order, ngày, trạng thái và số liệu là dữ liệu demo đã làm sạch.

Ma trận đơn sản xuất cho thấy biến thể thành phẩm nào thuộc đơn nào, và mỗi đơn mang bao nhiêu đơn vị.

Bạn có thể gộp một hay nhiều shipment plan vào một purchase order. Plan mang theo Sales SKU, kênh, số lượng và tuần về, tức những gì đã tạo ra nhu cầu. PO dịch nhu cầu đó thành các production SKU và số lượng mà xưởng nhận. Sau khi tạo PO, bạn vẫn sửa được plan cho tới khi hàng của nó đi.

Plan và PO là hai bản ghi liên kết với nhau, không phải một. Nhờ giữ liên kết đó, sau này nhìn một PO bạn vẫn lần ngược ra được nhu cầu shipment và projection đã sinh ra nó.

Ngăn kéo shipment plan ở bước tạo purchase order, đang mở tab Production order. Ô PO Number và ô Production Partner nằm trên panel tiêu đề PO cannot be created yet. Panel này báo mức tối thiểu theo từng SKU, có bốn SKU chưa đạt, và mức tối thiểu cho cả đơn, đã đạt. Bảng Production order preview liệt kê từng production SKU với số unit và số thùng, còn nút Create PO đang bị khóa. SKU và plan là dữ liệu demo.

Plan, hai phép kiểm mức tối thiểu của nó, và đơn hàng nó sắp trở thành.

Panel phía trên nút bấm không để trang trí. Đó là hai phép kiểm quyết định plan này có thành đơn hàng được hay không:

Phép kiểm Hỏi gì
Per-SKU minimum Mỗi production SKU trong plan đã đạt mẻ tối thiểu của riêng nó chưa?
Total-order MOQ Tổng production unit của mọi production SKU đã đạt đơn tối thiểu của nhà sản xuất chưa?

Cả hai hiện dưới dạng phân số, nên plan nào chưa đạt cũng cho bạn biết còn thiếu bao nhiêu. Con số đó thường quyết định bạn nên “chờ thêm một tuần” hay “thêm một Sales SKU nữa vào mẻ này”. Panel chỉ chuyển xanh và ghi Ready to create the PO khi cả hai đều đạt.

Mỗi dòng gồm Sales SKU · Channel · Quantity · Cartons. Số lượng tính bằng đơn vị, còn cột thùng cho biết số đó làm tròn ra bao nhiêu thùng. Cột nào cũng sắp xếp được. Khi plan còn mở, bạn sửa được số lượng của một dòng hoặc xóa dòng đó. Nếu plan đã có PO, số lượng trên PO đổi theo.

PO Number là bắt buộc, còn Production Partner ghi ai làm đơn này. Bảng bên dưới là đơn hàng theo cách nhà sản xuất sẽ đọc: mỗi Production SKU một hàng, kèm số lượng đặt và tổng.

Khi App thêm vào một plan có sẵn, nó chỉ bù phần còn thiếu. Nó không nhân đôi dòng bạn đã đặt vào đó.

Ngăn chi tiết của một purchase order đã duyệt. Thanh trên cùng ghi Production hasn’t started và 353 production unit đã đặt, kèm số đã lên shipment và chưa lên shipment. Bảng PO products liệt kê từng sản phẩm với số đặt, đơn giá và thành tiền. Dòng bên dưới báo chưa bắt đầu sản xuất và có nút Start production. Tên, mã, ngày và số lượng là dữ liệu demo.

Một PO đã duyệt. Thanh tiến độ cho biết trạng thái của đơn, dòng bên dưới cho biết còn việc gì.

Mẻ sản xuất là một con số. Thứ đi ra từ nó là nhiều Sales SKU.

Làm 1,000 production unit, đóng 400 thành gói lẻ và 300 thành gói đôi: mẻ sản xuất vẫn là một con số, còn mỗi Sales SKU nhận phần của riêng nó. Nhờ vậy, bạn nói chuyện với nhà sản xuất bằng đơn vị họ làm, còn projection thì tính bằng đơn vị bạn bán.

Mở một PO để xem PO details. Thanh trên cùng cho biết đơn đã đi được bao nhiêu, và dòng Next step nói còn việc gì: chưa bắt đầu sản xuất, còn hàng nằm ở xưởng, hay mọi thứ đã nhận đều đã lên shipment. Khi PO đã duyệt mà chưa có lô nào, Undo PO xóa PO đó và đưa plan về lại bản nháp.

Ngăn chi tiết của một purchase order đang sản xuất. Thanh trên cùng ghi 0 trên 332 production unit đã lên shipment. Dưới bảng sản phẩm, một dòng báo 332 production unit vẫn ở xưởng, bên cạnh nút More actions. Tên, mã, ngày và số lượng là dữ liệu demo.

Một PO đang sản xuất, toàn bộ unit vẫn còn ở xưởng.

  1. Bấm Start production khi xưởng bắt đầu làm đơn.
  2. Tạo shipment trên Amazon, Walmart hoặc TikTok như bình thường. Sau lần đồng bộ kế tiếp, shipment hiện trong PO, dưới mục Shipments matching this PO’s plan.
  3. Bấm Pair trên shipment đó. Kiểm số lượng từng SKU, rồi xác nhận. App ghi số đơn vị bạn xếp lên shipment là phần xưởng đã giao, nên bạn có thể gửi trước một phần đơn trong lúc phần còn lại vẫn đang sản xuất. Phần nào bạn chưa xếp thì vẫn nằm trong plan cho một shipment sau.
  4. Khi xưởng làm xong, chốt sản xuất trong More actions: Confirm Full PO khi xưởng giao đủ, Close PO — factory won’t deliver more khi xưởng giao thiếu, hoặc Edit delivered quantities để gõ số thực tế.

Nếu trên kênh chưa có shipment nào, Create shipment manually trong More actions sẽ xếp hàng lên một shipment của App. Sau đó bạn liên kết nó với shipment trên sàn trong Inbound Pipeline.

Hàng xưởng đã làm xong mà chưa lên shipment nằm ở Processed Stock. Bảng sản phẩm trong PO details cho biết từng sản phẩm đã Ordered bao nhiêu, Received bao nhiêu và bao nhiêu đang In shipment.

Ngăn chi tiết của một purchase order ở trạng thái Production Complete. Thanh trên cùng ghi 0 trên 399 production unit đã lên shipment. Bảng sản phẩm hiện Ordered, Received và In shipment của từng sản phẩm, và dòng bên dưới báo 399 unit đã nhận chưa lên shipment. Tên, mã, ngày và số lượng là dữ liệu demo.

Một PO đã xong. Hàng đã nhận nằm ở đây dưới dạng Processed Stock cho tới khi lên shipment.

Ghép là lấp vào nhu cầu shipment đã có sẵn: chỉ những dòng plan đã có PO mới ghép được. App ghi số lượng bạn nhập, và không bao giờ vượt quá số shipment trên sàn đang chở. Nếu số của bạn lệch với shipment, App hiện chỗ lệch và hỏi lại một lần. Shipment trên sàn giữ số lượng của nó, và chỗ lệch lộ ra khi kho nhận hàng. App không bao giờ ghi số lượng ngược lên Amazon.

Mục PO details & payment ghi tiền hàng, VAT, chiết khấu, khoản phụ phí nếu có, và số bạn đã Paid. Màn Production orders hiện Paid và Remaining cho từng đơn. Mark as paid đặt số đã trả bằng đúng tổng tiền. PO chỉ chuyển sang Closed khi hàng đã đi hết và đã trả đủ tiền. Trước đó, nó nằm ở Current.

Mỗi shipment đã ghép thành một lô trong Inbound Pipeline, gắn với shipment thật, có ngày lấy hàng và ngày dự kiến về. Bạn cũng xem được dòng của nó trong sổ Shipments. Từ lúc đó, projection thôi giả định về hàng sắp về. Nó đọc một shipment có thật.

  • Thời gian sản xuất và vận chuyển quyết định các mốc ngày đặt hàng trong Order Planning. Giữ chúng chính xác thì các mốc ngày mới đáng tin.
  • Một lô bị trễ làm đổi projection của mọi tuần sau nó. Hãy sửa ngày về, đừng để lưới lạc quan hơn thực tế.