Bỏ qua để đến nội dung

Profit Intelligence

Profit Intelligence gom doanh số, chi phí quảng cáo, phí marketplace, giá vốn và các chi phí khác lại, để bạn thấy doanh thu trở thành lợi nhuận gộp rồi lợi nhuận ròng ra sao. Trong App, màn hình này mang tên Dashboard.

Dashboard là một màn hình với ba tab. Mỗi tab trả lời một câu hỏi khác:

Tab Trả lời câu hỏi
Tiles Kỳ này kết quả ra sao, và sản phẩm nào kéo kết quả đó
P&L Tiền đã đi đâu, theo từng tháng
Trends Sản phẩm nào đang chuyển động, và theo chiều nào

Tab Tiles của Dashboard với năm thẻ kỳ: Today, Yesterday, 7 days, 14 days và 30 days. Mỗi thẻ hiện sales, orders, units, ads, estimated payout, gross profit và net profit.

Tab P&L bày ra mọi khoản trừ nằm giữa số tiền người mua trả và số tiền bạn giữ lại. Mỗi tháng là một cột.

Tab P&L của Dashboard. Các cột theo tháng so sánh sales, orders, units, refunds, chi phí quảng cáo, phí marketplace, giá vốn, gross profit và net profit, cột tổng nằm bên phải. Tên sản phẩm, ngày tháng và số liệu là dữ liệu demo đã làm sạch.

Quảng cáo chỉ là một trong nhiều khoản trừ, nhưng là khoản duy nhất bạn chỉnh hằng ngày.

Cột tháng nào cũng theo cùng một khung P&L. App lấy sales trừ chi phí quảng cáo, phí marketplace và giá vốn để ra gross profit. Sau đó App trừ tiếp chi phí gián tiếp để ra net profit.

Những dòng chi phí chính

  • Amazon fees & transaction costs thường là khoản trừ lớn nhất, lớn hơn cả quảng cáo. Đây cũng là khoản bạn ít kiểm soát được nhất.
  • Cost of goods là con số duy nhất Amazon không cung cấp. Thiếu nó thì gross profit không chỉ lệch một chút. Nó lệch đúng bằng toàn bộ giá vốn của sản phẩm. Xem Giá vốn.

Các dòng quảng cáo thụt vào trong vì chúng cộng vào tổng Advertising phía trên. Trong đó có thể có Sponsored Products, Sponsored Brands, Sponsored Brands Video, Sponsored Display, Amazon DSP, chi phí quảng cáo nhập từ trước khi kết nối Amazon Ads, và các chi phí marketing khác.

Amazon báo về rất nhiều loại phí và điều chỉnh: fulfilment, lưu kho, cước vận chuyển, thuế nhập, chuyển kho, tiền hoàn, clawback. Vendlen để mỗi khoản trên một dòng P&L riêng, nên bạn nhìn ra ngay khoản nào đã thay đổi:

Những dòng phí App để riêng Sáu nhóm tên khoản phí của Amazon. Nhóm fulfilment gồm FBA per-unit fulfilment fee, FBA inbound convenience fee và FBA disposal fee. Nhóm lưu kho gồm storage fee, long term storage fee và AWD storage fee. Nhóm referral và dịch vụ gồm referral fee, paid services fee và subscription. Nhóm đa kênh gồm MCF fulfilment / shipping, MCF supply chain credit và AWD MCD. Nhóm cước và thuế nhập kho gồm Amazon SEND freight, SEND duty, AGL freight và AGL duty. Nhóm thất lạc, clawback và hoàn tiền gồm compensated clawback, missing from inbound clawback, warehouse lost, warehouse damage, customer return reimbursement và free replacement refund items. Phí fulfilment FBA per-unit fulfilment fee FBA inbound convenience fee FBA disposal fee Lưu kho Storage fee Long term storage fee AWD storage fee Referral và dịch vụ Referral fee Paid services fee Subscription Đa kênh MCF fulfilment / shipping MCF supply chain credit AWD MCD Cước và thuế nhập kho Amazon SEND freight SEND duty AGL freight AGL duty Thất lạc, clawback và hoàn tiền Compensated clawback Missing from inbound clawback Warehouse lost Warehouse damage Customer return reimbursement Free replacement refund items

Hai mươi hai dòng có tên, chia làm sáu nhóm. Amazon báo về từng dòng riêng, và ở đây chúng vẫn đứng riêng.

Khoản hoàn tiền và khoản được ghi có cũng đứng riêng. App không lặng lẽ cấn chúng vào một chi phí mà bạn chưa từng thấy. Nếu Amazon hoàn tiền cho một lần hàng hư trong kho, cả dòng mất mát lẫn dòng được hoàn đều vẫn hiện. Chỉ có cách đó bạn mới nhận ra chuyện hàng hư đang lặp đi lặp lại.

Hai sản phẩm cùng chạy ở ACOS 40%. Sản phẩm thứ nhất có break-even 55% và đang có lãi. Sản phẩm thứ hai có break-even 30%, và đơn nào cũng lỗ. ACOS không phân biệt được hai sản phẩm này, vì nó không biết sản phẩm tốn của bạn bao nhiêu.

Break-even ACOS sinh ra để trả lời đúng câu đó. Vì vậy nó nằm trên Product Line, không nằm trong rule: đây là sự thật về sản phẩm, không phải về một campaign.

TACOS: quảng cáo so với toàn bộ doanh số

Phần tiêu đề “TACOS: quảng cáo so với toàn bộ doanh số”

ACOS lấy ad spend chia cho ad sales. TACOS lấy ad spend chia cho tổng sales, tính cả đơn tự nhiên.

Khi sản phẩm đã lớn, khác biệt này bắt đầu quan trọng. Quảng cáo giúp đẩy thứ hạng tự nhiên trông đắt nếu nhìn ACOS, nhưng lại hợp lý nếu nhìn TACOS. Lý do là ACOS không thấy được những đơn mà quảng cáo gián tiếp mang về. TACOS giảm trong khi tổng sales giữ nguyên thường có nghĩa là vị trí tự nhiên đang gánh nhiều việc hơn.

Xem ở đâu. Bảng sản phẩm đặt Ad Spend cạnh Ad Sales, rồi tới Real ACOS (TACOS): ad spend của sản phẩm đó chia cho toàn bộ sales của nó. Ad Spend so với Ad Sales là câu hỏi ACOS quen thuộc. Cột TACOS trả lời câu hỏi còn lại. Details, P&L và Trends đều hiện TACOS cho kỳ, sản phẩm hoặc kênh bạn đang xem.

TACOS không trừ Ads Credit. Khi marketplace trả lại một khoản Ads Credit, nhóm Advertising trừ khoản đó đi, còn dòng TACOS thì không. Credit là tiền được trả lại, không phải phiên đấu giá rẻ hơn. Nếu cấn nó vào, cùng những campaign ấy sẽ trông hiệu quả hơn đúng vào tháng marketplace phát credit, và TACOS sẽ không còn so được giữa các tháng. Vì vậy tổng Advertising và chi phí dùng để tính TACOS chênh nhau đúng bằng khoản credit. Khi bạn xem cả tài khoản, chi phí dùng để tính TACOS còn gồm cả các chi phí marketing bạn đã nhập.

Tab Tiles tóm tắt năm kỳ cùng lúc: hôm nay, hôm qua, 7, 14 và 30 ngày gần nhất. Thẻ nào cũng có sales, orders, units, ad spend, estimated payout, gross profit và net profit. Các thẻ 7, 14 và 30 ngày kết thúc ở hôm qua. Đây là bộ kỳ mặc định. Bạn có thể đổi sang bộ khác, ví dụ tháng này tới hôm nay kèm dự báo cả tháng, hoặc theo tuần, theo tháng, theo quý.

Tab Tiles của Dashboard. Năm thẻ kỳ chạy ngang phía trên cho hôm nay, hôm qua, bảy ngày, mười bốn ngày và ba mươi ngày, thẻ ba mươi ngày đang được chọn. Bảng sản phẩm bên dưới hiện sales và tồn kho FBA, AWD hiện tại. Tên sản phẩm, mã định danh, ngày tháng và số liệu là dữ liệu demo đã làm sạch.

Năm kỳ đặt cạnh nhau. Thẻ hôm nay chỉ là một mẩu của ngày, không phải một ngày nhỏ.

Hôm nay chưa phải là một kỳ. Thẻ này chỉ có vài giờ bán hàng, đặt cạnh cả một ngày chưa có gì, nên dòng lợi nhuận trên đó gần như không nói lên điều gì. Hãy đọc các thẻ 7, 14 và 30 ngày.

Details mở phần chi tiết nằm dưới một thẻ. Có hai thói quen nên tập.

Hộp thoại Details của thẻ ba mươi ngày trên Dashboard. Phần chi tiết bắt đầu bằng sales, units, refunds và promotions, rồi mở rộng các nhóm advertising, shipping, refund và phí marketplace thành từng dòng con. Ngày tháng và số liệu là dữ liệu demo đã làm sạch.

Mở một nhóm ra để thấy từng khoản phí hoặc khoản được ghi có làm nên tổng của nhóm đó.

So cùng loại với nhau. Kỳ 30 ngày có Prime Day không so được với kỳ không có. Kết luận bạn rút ra từ chênh lệch sẽ là về sự kiện đó, không phải về tài khoản.

Để ý mấy ngày gần nhất. Amazon vẫn tiếp tục ghi nhận đơn sau click, nên mấy ngày cuối luôn thấp hơn thực tế. Đây cũng là lý do Automation bỏ qua những ngày đó. Xem Data Window.

Tab Trends so từng sản phẩm qua các kỳ đã trọn vẹn. Chọn một chỉ số, rồi nhìn heatmap và phần trăm thay đổi để tìm chỗ đang chuyển động. Kỳ chưa trọn vẫn hiện giá trị, nhưng không được so sánh.

Tab Trends của Dashboard, đang chọn Sales. Mỗi dòng sản phẩm có một sparkline, tiếp theo là các ô sales theo tháng. Nền đỏ hoặc xanh và con số phần trăm trong ô cho biết mức thay đổi so với tháng trọn vẹn liền trước. Tên sản phẩm, SKU, ngày tháng và số liệu là dữ liệu demo đã làm sạch.

Kỳ chưa trọn chỉ hiện giá trị, không có phần trăm thay đổi và không tô màu heatmap.

Amazon Multi-Channel Fulfilment (MCF) là khi Amazon giao một đơn bạn bán ở kênh khác. Phí được ghi vào sổ của Amazon, nhưng trên P&L, khoản chi phí đó thuộc về kênh đã bán ra đơn hàng.

Mở Dashboard › Settings, vào tab Method, bật Charge Amazon multichannel fulfillment. Sau đó dùng Allocate fulfillment cost to để chọn những kênh được nhận khoản phí này. Walmart và TikTok chọn riêng từng kênh được, và chọn cả hai cũng được.

Vendlen chỉ chuyển phí khi ghép được một lô hàng Amazon MCF với một đơn trên kênh đã chọn, theo sản phẩm/SKU và theo ngày, lệch tối đa ba ngày về mỗi phía. Mỗi unit chỉ được dùng một lần. Ghép được thì App gỡ khoản phí MCF đó khỏi Amazon và đưa sang P&L của kênh đã bán, chi tiết tới từng SKU. Chọn thêm kênh chỉ mở rộng phạm vi tìm đơn để ghép. Nó không chia một khoản phí ra cho nhiều kênh.

Khoản nào không ghép được thì vẫn nằm ở Amazon và vẫn hiện ra. Nếu bạn không chọn kênh nhận nào, phí ở lại Amazon. Tắt công tắc thì MCF không được tính vào lợi nhuận nữa, nên hãy kiểm tra cài đặt này trước khi so các kỳ với nhau.

Giá vốn đi kèm cũng theo đúng nguyên tắc đó. App gỡ các unit đã ghép khỏi giá vốn MCF của Amazon, rồi ghi chúng một lần duy nhất vào P&L của kênh nhận, theo giá vốn MCF lấy từ phía Amazon. Không có khoản nào bị tính hai lần.

Walmart có cài đặt tương tự cho những đơn Walmart Fulfillment Services giao giúp một kênh khác: Charge Walmart multichannel fulfillment, với TikTok là kênh nhận phí. Đơn ghép được sẽ chuyển sang, chi tiết tới từng SKU. Walmart tính phí theo từng kỳ quyết toán, nên khoản phí chuyển đi tỷ lệ với số unit ghép được. Phần không ghép được vẫn ở lại Walmart.

Dashboard có thể hiện Amazon, Walmart và TikTok thành ba kênh bán riêng. Walmart và TikTok đang ở dạng Beta. Một kênh xuất hiện trong ô chọn kênh khi seller đó có kết nối đang hoạt động trong Settings › Connections. Trên Summary Dashboard gồm nhiều seller, kênh xuất hiện khi ít nhất một seller trong phạm vi đang chọn có kênh đó. Tổng của kênh chỉ gồm những seller đã kết nối kênh ấy.

Chọn một kênh để xem Tiles và P&L của riêng kênh đó. Góc xem theo kênh dùng sales, phí, fulfilment và giá vốn của chính marketplace đó, không đặt số của kênh khác dưới nhãn Amazon. Hiện tại Trends chỉ có cho Amazon.

Dữ liệu marketplace không về cùng một lúc. Kênh mới kết nối cần thời gian đồng bộ, và các kỳ gần đây có thể chưa đủ phí lấy từ dữ liệu quyết toán. Kỳ nào chưa có dữ liệu quyết toán thì chưa thể hiện những khoản phí marketplace chưa được báo về.

Profit Intelligence kết hợp dữ liệu từ các kết nối marketplace, kết nối quảng cáo, và những giá trị bạn quản lý trong Vendlen.

Dữ liệu Nguồn
Sales, refunds và phí marketplace của Amazon Amazon Selling Partner API
Chi phí quảng cáo Amazon Kết nối Amazon Ads
Sales, phí và chi phí fulfilment của Walmart và TikTok Dữ liệu marketplace đã kết nối
Quảng cáo do Walmart và TikTok tự báo Dữ liệu quyết toán của kênh
Quảng cáo trả tiền bên ngoài marketplace Nhập tay
Giá vốn Vendlen / dữ liệu giá vốn do bạn cung cấp

Kết nối marketplace không cung cấp giá vốn. Bạn phải nhập hoặc để Vendlen tính. Xem Giá vốn.

Thiếu COGS thì gross profit và net profit có thể cao hơn thực tế. Hãy kiểm tra độ phủ COGS trước khi dựa vào các con số lợi nhuận.

  • Profit Intelligence là màn hình riêng, tách khỏi AI Analyst. Số liệu ở đây không phải đầu vào cho quyết định quảng cáo. Đây là bối cảnh để bạn đọc những quyết định đó.
  • Phí thay đổi theo thời gian. Amazon điều chỉnh phí referral và phí fulfilment, nên một sản phẩm có lãi năm ngoái chưa chắc còn lãi ở cùng mức giá hôm nay.